Chi Tiết Tin

2016-06-23 Diễn đàn trao đổi

KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY HỌC PHẦN NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN THỰC TIỄN


ThS. Đào Thị Minh Tâm

Khoa Tài chính – Kế toán

  1. Đặt vấn đề

Đào tạo gắn với thực tiễn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại của các trường Cao đẳng, Đại học trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thì việc đưa những vấn đề của thực tiễn gắn với từng nội dung công việc của ngành nghề đào tạo vào bài học lý thuyết cho sinh viên là yêu cầu cấp thiết để sản phẩm đào tạo của nhà trường đáp ứng được nhu cầu xã hội. Song việc hướng cho sinh viên tiếp cận thực tiễn ngay khi đang học trong nhà trường không phải chỉ ở những học phần thực hành, thực tập mà cần được thực hiện cả trong quá trình giảng dạy những học phần mang tính chất lý thuyết.

Học phần Nguyên lý kế toán thuộc nhóm kiến thức cơ sở ngành của chương trình đào tạo ngành kế toán và quản trị kinh doanh, được bố trí học trước học phần kế toán tài chính với thời lượng 3 tín chỉ (45 tiết) và học kỳ thứ 3 của chương trình đào tạo bậc Cao đẳng. Đây là học phần mang tính chất lý thuyết hơn là thực hành nhằm cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán kế toán. Những kiến thức này hoàn toàn mới đối với các sinh viên (SV) chuyên ngành kinh tế và kế toán, vì nhiều khái niệm và thuật ngữ khó hiểu mà SV chưa hình dung được, vậy làm thế nào để giảng dạy học phần nguyên lý kế toán hướng đến tiếp cận thực tiễn giúp SV chủ động tiếp thu bài giảng và gắn được nội dung học phần với công việc cụ thể của SV sau này. Bài tham luận sẽ trao đổi một số kinh nghiệm trong giảng dạy học phần Nguyên lý kế toán hướng SV tiếp cận thực tiễn công việc kế toán gắn với các nội dung trong học phần.

  1. Một số kinh nghiệm trong giảng dạy học phần Nguyên lý kế toán theo hướng tiếp cận thực tiễn

            Học phần Nguyên lý kế toán có kết cấu chương trình bao gồm 8 chương:

  1. Bản chất của hạch toán kế toán
  2. Đối tượng và hệ thống phương pháp kế toán
  3. Phương pháp chứng từ và kiểm kê
  4. Phương pháp tài khoản và ghi kép
  5. Phương pháp tính giá
  6. Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán
  7. Hạch toán quá trình kinh doanh chủ yếu
  8. Hình thức kế toán và tổ chức bộ máy kế toán

Với số lượng 8 chương học sẽ tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản:

-              Lý luận chung về hạch toán kế toán

-              Các phương pháp của hạch toán kế toán (chứng từ, tài khoản, tính giá và tổng hợp cân đối kế toán)

-              Hạch toán quá trình kinh doanh chủ yếu (Mua hàng, sản xuất và bán hàng)

-              Hình thức tổ chức kế toán (hình thức sổ kế toán và tổ chức bộ máy kế toán)

Như vậy tương ứng từng nội dung của khối kiến thức cơ bản giảng viên cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi để định hướng cho SV tiếp cận thực tiễn ở các phần như sau:

  • Phần lý luận chung về hạch toán kế toán

Phần này SV cần trả lời được các câu hỏi:

- Kế toán gì ? Tại sao nó ra đời và tồn tại ?

- Nhiệm vụ kế toán làm gì ?

- Đối tượng của kế toán là gì và có quan hệ với nhau ra sao?

Với các câu hỏi trên chúng tôi thường đặt SV vào vị trí của một nhân viên kế toán để SV trả lời câu hỏi kế toán là gì, có nhiều cách trả lời song các em bước đầu hình dung được công việc của nhân viên kế toán để hình thành câu trả lời. Sau khi giảng viên (GV) phân tích liên hệ thực tế và khái quát khái niệm kế toán, từ đó rút ra bản chất của kế toán là hoạt động thu nhận xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin. Câu hỏi tiếp theo được đặt ra là: ai là người sử dụng thông tin kế toán và sử dụng thông tin để làm gì? Từ các đối tượng sử dụng thông tin trong thực tế GV sẽ dẫn dắt đến vai trò của kế toán đối với đơn vị kinh doanh, đơn vị phi kinh doanh và Nhà nước.

            Trên cơ sở nhận thức được vai trò kế toán GV đặt câu hỏi đối với SV về nhiệm vụ kế toán tại các cơ sở kinh doanh, các đơn vị hành chính, sự nghiệp và cơ quan quản lý (cho ví dụ thực tế về một DN sản xuất hoặc đơn vị trường học công lập để minh họa cho nhiệm vụ kế toán).

Để thực hiện được nhiệm vụ kế toán GV dẫn dắt SV đến đối tượng của hạch toán kế toán (đó là thông tin về tài sản, nguồn hình thành tài sản, sự vận động của tài sản trong quá trình kinh doanh và các quan hệ kinh tế pháp lý khác).

            Với nội dung này GV nên để SV liên hệ thực tế liệt kê ra các loại tài sản một đơn vị và đặt câu hỏi về nguồn gốc tài sản từ đâu ra để SV tự suy nghĩ chỉ ra nguồn hình thành tài sản từ vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Với câu trả lời SV về các loại tài sản yêu cầu các em so sánh sự khác biệt để rút ra các khái niệm về tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn. Đối với nguồn vốn cũng yêu cầu SV liên hệ thực tế để cho thấy sự khác nhau giữa nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. GV cũng cần xác lập được mối quan hệ giữa các tài sản, nguồn vốn thông qua phương trình kế toán, phân tích tác động của các nghiệp vụ kinh tế xảy ra trong thực tế ảnh hưởng như thế nào đến sự thay đổi của các yếu tố của phương trình, từ đó rút ra các quan hệ đối ứng cơ bản làm nền tảng cho các chương tiếp theo.

vPhần các phương pháp của kế toán

+ Phương pháp chứng từ: Phần này mục tiêu yêu cầu sinh viên định nghĩa được chứng từ, hiểu được ý nghĩa của chứng từ, cách lập một chứng từ đảm bảo tính hợp pháp và thủ tục luân chuyển chứng từ trong thực tế.

Với các mục tiêu trên chúng tôi thường lấy ví dụ về các chứng từ thực tế trong đời sống hàng ngày như phiếu thu, phiếu chi, hóa đơn điện nước, điện thoại...Chẳng hạn nêu tình huống SV nộp tiền học phí, yêu cầu SV cho biết tại sao khi nộp tiền SV lại cần có phiếu thu và nội dung phiếu thu bao gồm những yếu tố nào ? Từ đó đưa ra khái niệm và rút ra ý nghĩa của chứng từ. Tuy nhiên để chỉ ra một chứng từ hợp pháp như thế nào GV cần minh họa 1 mẫu chứng từ cụ thể và trên cơ sở chữ ký của những người liên quan ở phần cuối chứng từ rút ra trình tự luận chuyển chứng từ trong từng giai đoạn.

+ Phương pháp tài khoản: Phần này cần chuyển tiếp từ phương pháp chứng từ để chỉ ra sự cần thiết của phương pháp tài khoản, thực chất là phương tiện xử lý thông tin trên cơ sở chứng từ và đó chính là các trang sổ kế toán. Vậy một trang sổ được thiết kế như thế nào và ghi chép ra sao GV cần minh họa mẫu sổ thực tế từ đó rút ra kết cấu các loại tài khoản cơ bản. Tiếp theo nêu các nghiệp vụ kinh tế thường phát sinh hàng ngày để SV thấy được mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán đó là các quan hệ nhân quả biểu hiện thông qua chiều hướng biến động tăng hay giảm của các đối tượng...Trên cơ sở đó rút ra nguyên tắc ghi kép của tài khoản và cho SV vận dụng kết cấu tài khoản và nguyên tắc ghi kép để thực hành các ví dụ thực tế.

+ Phương pháp tính giá: Liên hệ thực tiễn bằng cách đưa ra ví dụ về các loại tài sản SV thường thấy hàng ngày để các em tự xác định giá trị cuối cùng của chúng như hàng hóa, xe máy, nhà cửa...Trên cơ sở đó đưa ra nguyên tắc tính giá cho từng loại tài sản và yêu cầu SV vận dụng tính giá từng loại tài sản cụ thể.

+ Phương pháp tổng hợp cân đối: Minh họa thực tế báo cáo tài chính của một đơn vị cụ thể (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh...) từ đó đặt câu hỏi tại sao đơn vị đó phải lập Báo cáo tài chính và cách lập các chỉ tiêu trên báo cáo như thế nào. Từ đó nêu được ý nghĩa của phương pháp tổng hợp cân đối và hướng dẫn SV lập các báo cáo tài chính.

Như vậy đối với các phương pháp kế toán chúng tôi thường nêu ra câu hỏi để SV thấy được sự cần thiết khách quan của các phương pháp, từ đó sử dụng các mẫu trực quan từ thực tế để SV quan sát, định hướng SV tự nắm bắt nội dung từng phương pháp và vận dụng vào giải quyết các ví dụ thực tế.

  • Phần hạch toán quá trình kinh doanh chủ yếu:

Với nội dung này GV đặt SV vào tình huống là một người chủ kinh doanh hoặc giám đốc DN để các em thấy được nhà quản lý họ cần thông tin gì từ bộ phận kế toán để phục vụ việc ra quyết định kinh doanh. Từ nhu cầu thông tin của nhà quản lý kế toán cần cung cấp thông tin về hiệu quả kinh tế giữa đầu vào, đầu ra. Từ đó đặt ra yêu cầu kế toán phải hạch toán được quá trình mua hàng, quá trình sản xuất và quá trình bán hảng.

Thông thường khi trao đổi với SV về hạch toán quá trình kinh doanh chủ yếu chúng tôi lấy ví dụ thực tế một doanh nghiệp sản xuất để minh họa, chẳng hạn công ty may hoặc DN sản xuất đồ gỗ để các em hình dung khi mua hàng cần hạch toán những loại vật tư gì, giá thực tế vật tư mua vào bao gồm các chi phí nào và phương pháp hạch toán, cho bài tập để SV thực hiện hạch toán. Bước sang giai đoạn sản xuất GV định hướng SV mô tả quá trình sản xuất 1 sản phẩm cụ thể từ nguyên liệu cho đến khi sản phẩm DN cần bỏ ra các chi phí gì và các chi phí đó sẽ cấu thành nên giá thành sản phẩm, do đó nhiệm vụ kế toán phải xác định được giá thành thực tế từng loại sản phẩm. Trên cơ sở đó GV hướng dẫn SV phương pháp tập hợp các loại chi phí, phân bổ chi phí trong trường hợp sản xuất nhiều loại sản phẩm và tính giá thành đơn vị sản phẩm, đồng thời yêu cầu SV thực hành các bài tập tính giá thành . Ở nội dung này GV cần làm rõ cho SV ý nghĩa thực tiễn của việc tính giá thành đơn vị sản phẩm, sự khác nhau giữa số lượng hàng nhập và hàng bán ra ở giai đoạn bán hàng làm căn cứ tính lãi dựa trên nguyên tắc phù hợp. Đối với giai đoạn bán hàng GV nên lấy ví dụ thực tế về trường hợp hàng xuất ra đã bán trực tiếp hoặc gửi bán, nhấn mạnh điều kiện để xác định hàng đã bán được làm căn cứ ghi nhận doanh thu. Cần làm rõ doanh thu ghi nhận theo giá bán căn cứ hóa đơn bán hàng, giá xuất kho được ghi nhận là giá vốn căn cứ phiếu xuất kho. Lưu ý SV đối với thuế giá trị gia tăng khi bán hàng, giải thích rõ để SV hiểu bản chất thuế GTGT DN nộp thay người bán, vì vậy doanh thu có thuế hay không bao gồm thuế tùy thuộc vào phương pháp tính thuế DN áp dụng.

Như vậy lợi nhuận bán hàng được tính là phần chênh lệch giữa doanh thu thuần (doanh thu đã giảm trừ) và chi phí (bao gồm giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý), ngoài ra còn bao gồm lợi nhuận từ hoạt động tài chính và hoạt động khác, sau khi tính được lợi nhuận DN phải nộp thuế thu nhập DN phần còn lại mới là lợi nhuận để lại DN có quyền phân phối. Vấn đề ở chỗ GV không chỉ đưa ra ví dụ thực tế để SV biết cách hạch toán lãi lỗ mà phải hiểu được bản chất thực sự của quá trình tính toán và thông tin này có ý nghĩa như thế nào đối với nhà quản lý, dưới góc độ là kế toán thì SV cần chỉ ra được nguyên nhân DN lãi hay lỗ cần tư vấn gì cho nhà quản lý để gia tăng lợi nhuận. Quá trình liên hệ thực tế kích thích tư duy SV theo hướng mở giúp SV hiểu được ý nghĩa của công tác kế toán trong từng phần hành, từ đó có động lực hơn trong quá trình tìm hiểu thực tế những hoạt động kinh doanh mà SV quan sát được gắn với việc vận dụng lý thuyết GV đã hướng dẫn.

  • Phần hình thức kế toán và tổ chức bộ máy kế toán

Phần này chúng tôi thường hỏi SV trong một đơn vị Phòng kế toán thường bao gồm những nhân viên kế toán nào để từ đó khái quát cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán một đơn vị. Đưa ra các tình huống DN có qui mô nhỏ, lớn khác nhau và hoạt động độc lập hay phụ thuộc (như các công ty thương mại, công ty xây dựng hoặc công ty may...) để SV phân biệt được sự khác nhau về cơ cấu tổ chức giữa đơn vị hoạt động tập trung hay phân tán, độc lập hay phụ thuộc để khái quát mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung hay phân tán.

            Về phần sổ sách chúng tôi thường giới thiệu mẫu sổ đặc thù của các hình thức kế toán để SV phân biệt sự khác nhau giữa các hình thức và mô tả được qui trình ghi sổ các hình thức kế toán cơ bản.

            Tóm lại trong phạm vi bài tham luận chúng tôi chỉ nêu ra một số kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy học phần Nguyên lý kế toán theo hướng tiếp cận thực tiễn gắn với các nội dung trọng tâm của các chương học, các kinh nghiệm có thể rút ra các kết luận chung như sau.

  1. Kết luận

Để hướng SV tiếp cận thực tiễn trong quá trình học tập học phần nguyên lý kế toán, một số kinh nghiệm được rút ra như sau:

-           Thường xuyên đặt sinh viên vào vị trí để một nhân viên kế toán để xem xét vấn đề và trả lời câu hỏi của GV

-           Yêu cầu SV không chỉ học bằng cách tiếp thu thụ động mà cần phải động não, tưởng tượngvà liên hệ thực tế từng nghiệp vụ kế toán cụ thể

-           Trả lời câu hỏi tại sao phải làm như vậy trước khi tiếp cận vấn đề làm như thế nào để tạo động cơ và thái độ học tập tích cực

-           Vận dụng các nội dung lý thuyết để giải quyết các tình huống và ví dụ thực tế

-           Kết nối được kiến thức các phần trước và sau một cách lô gic để tạo thành khối kiến thức thống nhất liên quan đến các công việc trong qui trình kế toán thực tế

-           Cần xác định rõ nội dung trọng tâm để liên hệ thực tế và hướng SV vào các kiến thức cơ bản liên quan đến nghề nghiệp (điều này có nghĩa GV không liên hệ thực tế một cách lan man là lệch trọng tâm bài giảng và lãng phí thời gian của SV trên lớp).

Trên đây là một số kinh nghiệm mang tính cá nhân trong quá trình giảng dạy học phần Nguyên lý kế toán, học phần này mang tính lý thuyết vì vậy việc liên hệ thực tế mang tính chất tiếp cận các tình huống, ví dụ thực tế nhiều hơn là các bài thực hành cụ thể. Các kinh nghiệm chưa phải là tối ưu trong quá trình giảng dạy, bởi vì mỗi Thầy Cô sẽ có cách thức, phương pháp và nghệ thuật riêng trong quá trình giảng dạy để nâng cao tính thực tiễn trong bài giảng của mình, do đó bài tham luận chỉ mang tính tham khảo, rất mong quí Thầy Cô có những chia sẻ bổ sung để chất lượng giảng dạy học phần ngày càng được nâng cao.

 

Trân trọng cảm ơn!


 

Tin liên quan